Giỏ hàng của bạn

0 sản phẩm

Thanh toán

Giỏ hàng mini

Hiện bạn không có sản phẩm nào trong giỏ hàng.
Vào giỏ hàng
Video Giới Thiệu

Fanpage Facebook

Sản Phẩm Ngẫu Nhiên
Thống Kê
Tổng truy cập
Trong tháng
Trong tuần
Trong ngày
Trực tuyến

Thời gian đăng: 22-10-2015 16:38 | 1248 lượt xemIn bản tin

Tác dụng thần kỳ của cây Hoàn Ngọc

Cây bách bệnh

TÁC DỤNG TUYỆT VỜI CỦA CÂY HOÀN NGỌC

 

Cây hoàn ngọc (xem ảnh) còn có tên là cây con khỉ, họ Ô rô (Acantaceae). Trong tự nhiên, có hai loại là hoàn ngọc đỏ (Pseuderanthemum bracteatum) và cây hoàn ngọc trắng (Pseuderanthemum palatiferum).

Thứ nhất, cây hoàn ngọc đỏ (cây xuân hoa lá hoa), là cây bụi, cao từ 0,6 đến 1,5m, sống lâu năm. Lúc còn non, thân trơn nhẵn, màu hơi vàng hồng, lá đơn, nguyên, mọc đối, cuống lá dài, phiến lá hình mũi mác. Lá non có vị chát, hơi chua, thường được dùng ăn kèm với thịt, cá như một loại rau gia vị để giúp cho việc tiêu hóa tốt, tránh đầy bụng, sôi bụng, đau bụng. Cây ra hoa vào tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau, khi đó người dân cắt lấy phần trên mặt đất, gồm các cành non và lá, rửa sạch phơi khô. Khi dùng cần cắt ra từng đoạn 5 đến 7cm, liều 20 đến 40g/ngày sao vàng, sắc lấy nước uống để chữa bệnh: Đau bụng, quặn bụng, sôi bụng, đầy hơi, đi ngoài phân sống nát, trĩ, đi ngoài ra máu. Ngoài ra, lấy lá tươi, rửa sạch, giã nát đắp và băng chặt vào chỗ vết thương chảy máu có tác dụng cầm máu.

Thứ hai, cây hoàn ngọc trắng (cây xuân hoa), cũng thuộc loại cây bụi, phân nhiều cành, có chiều cao khoảng 1- 2m, lá mọc đối, hình mũi mác, đầu lá nhọn, thường xuyên xanh cả hai mặt. Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành có màu trắng pha tím. Khi nhấm, lá có dịch nhầy nhớt. Vị thuốc là lá của cây hoàn ngọc trắng. Hoàn ngọc trắng cũng mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi để làm thuốc. Hoàn ngọc trắng cũng được dùng để trị các bệnh viêm nhiễm đường tiêu hóa, rối loạn tiêu hóa... Trên thực tế, hoàn ngọc trắng dùng trị viêm đại tràng thể nhiệt, tốt hơn như táo bón, đau bụng, trĩ xuất huyết. Có thể dùng lá tươi, rửa sạch, ăn sống hoặc sắc lấy nước uống, ngày 8 đến 10g.

Để trị viêm loét dạ dày, tá tràng, xuất huyết đường tiêu hóa, trĩ nội, có thể dùng hoàn ngọc trắng, ngày 2 đến 3 lần, mỗi lần 8 đến 10g. Dùng liền 2 tuần lễ. Ngoài ra có thể dùng trị các vết thương khi té ngã bị chảy máu, tụ máu, lở loét... Ngoài ra có thể lấy lá tươi, rửa sạch, giã dập, đắp bó vào nơi bị đau.

Tác dụng chữa đau dạ dày & bách bệnh của Cây “hoàn ngọc”

Cây “hoàn ngọc” hay “Nhật nguyệt” hay “Cây con khỉ” 

Từ một hiệu quả điều trị cho bệnh nhân bị bệnh ung thư gan, sau khi các loại thuốc đã bó tay. Khi ăn được những lá tươi xanh, người bệnh có những chuyển biến bất ngờ: nhiệt độ từ 39 0 C hạ xuống 37 0 C, cn đau dứt hẳn, nước da bớt vàng, bụng nhỏ lại, người nhẹ nhàng, bệnh nhân có thể ngồi dậy được để tiếp chuyện.

Cái gì có khả năng làm chuyển bệnh nhanh như vậy?. Biểu hiện công hiệu của thuốc như sau: Sau khi ăn từ 20 phút đến 1 giờ thuốc có tác dụng. Nếu ăn 5 lá giảm đau được 3 giờ, 7 lá giảm đau được 5 giờ, tương đương với một liều thuốc đặc trị.

Thực tế ấy làm cho người bệnh rất ngạc nhiên, phấn khởi, nhưng với lòng luyến tiếc bởi vì nếu dùng thuốc sớm hơn thì kết quả có thể hy vọng cứu được ngươì bệnh.

Dùng lá cây trong lúc bệnh tình đã đến giai đoạn cuối, nhưng gây được chuyển biến như vậy thì thật là tuyệt vời. Đó là cây “Hoàn Ngọc”, cây thuốc cực kỳ quý giá, một món quà quý của thiên nhiên tặng cho con người.

Xuất sứ của cây này được gọi là cây “Con Khỉ”, vốn dĩ Khỉ ăn chữa khỏi thủng ruột, nhưng sau này đổi thành “Hoàn Ngọc” vì đã trả lại cho chú bé hòn dái bị biến mất do trẻ chơi nghịch đá vào bừu nhau. Cây thuốc rất đa năng: từ phục hồi trạng thái của cỏ thể khoẻ mạnh đến chữa được các bệnh thông thường cũng như hiểm nghèo. Cây thuốc như vị cứu tinh trong nhiều trường hợp thúc bách không rõ căn bệnh, nhưng sau khi ăn diễn biến của bệnh tương tự như một hành động, tự điều chỉnh trạng thái cơ thể, chỗ nào yếu thì điều trị chỗ đó.

Có thể nêu cụ thể tác dụng của cây thuốc như sau:

1) Khôi phục sức khoẻ cho người ốm yếu, mệt mỏi, người già, người suy nhược thần kinh, làm việc quá sức, khủng khoảng về tinh thần và thể lực.

2) Cảm cúm nhiệt độ cao, rối loạn tiêu hoá.

3) Chấn thương, chảy máu, dập gãy cơ thể, có thể dùng như thuốc uống hoặc thuốc đắp, đặc biệt hiệu nghiệm với chấn thương sọ não.

4) Khi bị nhiều bệnh một lúc như: Bệnh đường ruột, cảm cúm, gan, thận.vv

5) Đau dạ dày, chảy máu đường ruột, loét hành tá tràng, trĩ nội.

6) Đau gan, sơ gan cổ chướng.

7) Viêm thận, viêm đường tiết niệu, đái ra máu, đái buốt, đái đục.

Đau bên trong không rõ nguyên nhân: u buốt đau nhức, sau khi ăn hoặc uống 150-200 lá là khỏi hẳn, tràn dịch phổi đều hết.

9) Đau mắt đỏ, mắt trắng, đau ứ máu.

10) Phụ nữ đang cho con bú, ăn lá không ảnh hưởng đến tuyến sữa nên có thể dùng cho mẹ và con. Chữa sa dạ con.

11) Đối với bệnh huyết áp cao hay thấp ăn lá thuốc đều có hiệu quả ổn định thần kinh, chữa rối loạn dây thần kinh thực vật.

12) Có thể dùng cho súc vật ăn như: chó Nhật đẻ một ngày cho ăn lá sạch ngay, gà chọi sau khi chọi cho ăn lá sẽ hồi phục sức khoẻ gấp 3 lần.

Theo tôi dùng chữ “Thần dược” với cây thuốc này cũng không quá. Là một nhà nghiên cứu tôi muốn đặt câu hỏi tại sao ? để chúng ta bàn luận.

Tại sao khi ăn vào thuốc có khả năng điều chỉnh làm cho cơ thể ổn định? Có lẽ nếu chờ phân tích hoá chất gì đã tạo nên những hiệu quả như vậy chúng ta phảii tốn rất nhiêù thời gian và phải có thí nghiệm tốt.

Theo kinh nghiệm nhân dân ta hãy rút ra từ thực tế, ví dụ: suy nhược thần kinh nặng, huyết áp cao, huyết áp thấp, đái ra máu, đái rắt đều chữa được rất nhanh chóng. Có những bệnh xem như đối lập nhau cho một loại thuốc nhưng ngược lại thuốc vẫn chữa được. Phải chăng theo qui luật bảo toàn, cơ thể có khả năng bảo tồn lấy sức khoẻ nên đã tự động tăng sức đề kháng hoặc tự điều chỉnh, tự cân bằng tương đối để kháng lại bệnh tật. Do đó hầu hết các bệnh đều tự khắc phục được.

ở đây khi ta dùng lá “Hoàn Ngọc” lá thuốc này có tác dụng chữa bệnh như các loại thuốc khác, nhưng nó còn có tác dụng như châm cứu tức là tự động điều chỉnh cơ thể nhưng hoàn toàn tự động hoá để khắc phục bệnh tật, đó là tác dụng tự cân bằng “âm dương”. Vì vậy còn có tên là “Nhật Nguyệt”. Chính vì vậy nó mới có khả năng chữa nhiều bệnh một lúc như vậy.

Chính từ lượng suy nghĩ đó chúng tôi đã vận dụng đã chữa được nhiều bệnh và hồi phục sức khoẻ. Tuy nhiên với từng người còn phải có liều lượng cho phù hợp với tính chất cân bằng âm dương và thân nhiệt của từng người.

Về hình thức cây thuốc:

Đây là loại cây lá nhọn, mặt sau lá hơi nhọn, mặt trên màu xanh sẫm, hình lá tương tự cây cỏ hoa. Cây có lá đối xứng, kẽ lá chồi cành, lá màu vàng một chút là rụng ngay. Cây có sức sống mạnh, mọc thẳng. Nhân rộng chủ yếu bằng ngắt cành cây trồng xuống đất ẩm.

Cách dùng và liều lượng:

Người ta dùng lá tươi là chủ yếu; Lá tươi ăn ngay hoặc giã lấy nước đặc uống; Nấu chín lá ăn như canh.

Do tác dụng chủ yếu là chất nước trong lá nên vỏ cây hay rễ có thể chế xuất bằng rượu hoặc nấu lâý nước. Lá tươi không có mùi vị gì, dễ ăn. Liều lượng nhiều hay ít phụ thuộc vào từng ngưòi, thông thường nên ăn từ 1 đến 7 lá - ăn nhiều lần. Không ăn quá 10 lá, nếu quá liều có thể bị phản ứng nhẹ như người bị choáng, nhưng chỉ 15 phút sau thì khỏi.

Các số liệu nêu sau đây là phổ biến, trừ ngoại lệ.

- Đau dạ dày do lở loét viêm tấy: Ǎn 02 lần/ngày. Mỗi lần không quá 7 lá. Khoảng 50 lá. Chảy máu đường ruột ăn lá tươi hoặc uống nước lá giã nát, ăn từ 7-10 lá (một đến hai lượt)

- Viêm đại tràng co thắt: Ǎn như trên 100 lá. Kết hợp ăn lá mơ lông trong bữa ăn từ 1 đến 2 lá.

- Viêm gan, xơ gan cổ chướng: Ngày 2 đến 3 lần, mỗi lần 7 lá, khoảng 150 lá.

- Đau thận, viêm thận đau thường xuyên: Không quá 50 lá, khoảng 30 lá đã dứt cơn đau. Nên ăn mỗi lần 3-7 lá, 3 lần / ngày.

- Lỏng, lỵ, rối loạn tiêu hoá: Ǎn từ 7-10 lá (hai lần là khỏi).

- Mệt mỏi toàn thân: Ǎn từ 3-7 lá, ăn 2 lần.

- Đái rắt, đái ra máu: Ǎn từ 14-21 lá, giã nát, uống nước đặc.

- Chữa bệnh gà rù: 1-3 lá.

- Gà chọi sau khi đấu: 1-3 lá.

- Chó đẻ: 1 lá sau 1 ngày đẻ là sạch.

- Đau mắt đỏ ứ máu: Giã 3 lá đắp vào mắt, sau một đêm sẽ khỏi.

- Làm thuốc lá để tự cứu lấy mình và giúp người khác khi có điều kiện. Đây là những kinh nghiệm bản thân, tôi không muốn phổ biến cho là hồ đồ. Tuy nhiên nếu các bạn thu nhập được những gì đúng thì lấy đó làm kinh nghiệm. Mặt khác sau khi có kinh nghiệm đề nghị nên trao đổi.

Từ một hiệu quả điều trị cho một bệnh nhân bị ung thư gan, sau khi các loại thuốc đã bó tay, khi được ăn những lá tươi xanh người bệnh đã có những chuyển biến bất ngờ. Nhiệt độ từ 39,5 độ C hạ xuống còn 37 độ, cơn đau chưa hẳn, nước da bớt vàng, bụng nhỏ lại, người nhẹ nhàng, bệnh nhân có thể ngồi dậy tiếp chuyện. 

Cái gì có khả năng làm chuyển bệnh nhanh như vậy, biểu hiện công hiệu của thuốc như sau: 

Sau khoảng từ 20 phút đến một giờ thuốc có tác dụng. Nếu ăn 5 lá giảm đau được 3 giờ, 7 lá giảm đau được 5 giờ, tương đương với một liều thuốc đặc trị. 

Thực tế ấy làm cho gia đình người bệnh ngạc nhiên, phấn khởi nhưng với lòng luyến tiếc bởi nếu dùng thuốc sớm hơn thì kết quả có thể hy vọng cứu được người bệnh. 

Dùng lá trong lúc bệnh tình đã đến giai đoạn cuối nhưng gây được chuyển biến như vậy thì thật tuyệt vời. Ðó là cây “Hoàn Ngọc”, Cây thuốc cực kỳ quý giá. Một món quà thiên nhiên tặng cho con người. Xuất xứ cây này được gọi là cây “con khỉ” vốn là vì khỉ ăn chữa khỏi bệnh thủng ruột, nhưng sau đổi thành “Hoàn Ngọc” vì đã trả lại cho chú bé hòn dái bị biến mất do trò chơi nghịch đá vào bìu nhau
Cây thuốc rất đa năng. Từ hồi phục trạng thái của cơ thể khỏe mạnh đến các bệnh thông thường cũng như hiểm nghèo. Cây thuốc như cứu tinh trong nhiều trường hợp thúc bách, không rõ nguyên căn, nhưng sau khi ăn, diễn biến của bệnh tương tự như một hành động điều trị, điều chỉnh trạng thái cơ thể, chỗ nào yếu điều trị chỗ đó. 

Có thể nêu cụ thể tác dụng cây thuốc như sau: 

1. Khôi phục sức khỏe cho người ốm yếu, mệt mỏi, người già, suy nhược thần kinh, làm việc quá sức, khủng hoảng về tinh thần và thể lực. 

2. Cảm cúm nhiệt độ cao, rối loạn tiêu hóa. 

3. Chấn thương chảy máu, dập gãy cơ thể, dùng như nước uống và thuốc đắp. Ðặc biệt hiệu nghiệm với vết thương sọ não. 

4. Khi bị nhiều bịnh một lúc như: Bệnh đường ruột, cảm cúm, gan, thận . . . 

5. Ðau dạ dầy, chảy máu đường ruột, lở loét hành lá tràng, viêm loét đại tràng, trĩ nội. 

6. Ðau gan sơ gan cổ trướng. 

7. Viêm thận, viêm đường tiết niệu, đái ra máu, đái buốt, đái dục, đái gắt, bìu đau nhức. Sau khi uống hoặc ăn 150 lá đến 200 lá khỏi hẳn, tràn dịch màng phổi đều tốt. 

8. Ðau bên trong không rõ nguyên nhân. 

9. Ðau mắt đỏ, mắt trắng, đau ứ máu. 

10. Phụ nữ đang cho con bú bị sa dạ con cũng ăn lá thuốc không ảnh hưởng gì đến sữa. 

11. Ðối với người có bệnh huyết áp cao hoặc thấp ăn lá thuốc đều có hiệu quả, ổn định được thần kinh, rối loạn thần kinh thực vật đều chữa khỏi. 

12. Có thể dùng cho chó Nhật như đẻ một ngày cho ăn lá sạch ngaỵ Gà chọi sau khi chọi cho ăn lá nó khôi phục sức gấp 3 lần. 

Chúng ta tốn rất nhiều thời gian và phải có thí nghiệm tốt. Theo kinh nghiệm trong dân gian, ta hãy rút ra từ thực tế. Ví dụ: Suy nhược thần kinh nặng, huyết áp cao, huyết áp thấp, đái ra máu, đái gắt đều chữa được rất nhanh chóng có những bệnh xem như đối lập nhau cho một loại thuốc nhưng ngược lại thuốc vẫn chữa được phải chăn theo quy luật bảo toàn, cơ thể con người có khả năng bảo tồn lấy sức khỏe nên đã tự động tăng sức đề kháng hoặc tự điều chỉnh, tự cân bằng tương đối để thắng bệnh tật. Do đó hầu hết các bệnh đều tự khắc phục được. 

Ở đây, khi ta dùng “Hoàn ngọc”, lá thuốc này có tác dụng chữa bệnh như châm cứu, tức là tự động điều chỉnh lại cơ thể nhưng hoàn toàn tự động hoá để khắc phục bệnh tật do tự tác dụng, tự cân bằng âm dương. Vì vậy cây cỏ có tên là “Nhật Nguyệt”. Chính vì thế mới có khả năng chữa nhiều bệnh cùng một lúc như vậy.
Về hình thức cây thuốc: 

Ðây là loại cây lá dài nhọn, mặt sau hơi nhạt, hình lá tương tự màu cây, cây cứng không có hoa, cây có lá mọc đối xứng, kẻ lá chồi cành cây chúc ngược lên, lá nó không bền mà chỉ vàng một chút là rụng ngay. Cây có sức sống khỏe như cành mọc thẳng, nhân giống chủ yếu bằng ngọn cây cắm xuống đất. 

Cách dùng và liều lượng: 

- Người ta dùng lá tươi là chủ yếu, lá tươi ăn ngay hoặc lấy nước uống, nấu chín lá ăn như canh. 

- Do tác dụng chủ yếu là chất nước trong lá, nên vỏ cây hoặc vỏ rễ có thể ngâm bằng rượu hoặc nấu lấy nước. Lá tươi không có mùi vị dể ăn, liều lượng nhiều hay ít tùy thuộc vào từng người. Thông thường nên ăn từ 1- 7 lá và ăn nhiều lần. Mỗi lần không quá 10 lá. Uống quá liều có thể phản ứng nhẹ như người bị choáng váng nhưng chỉ sau 10 – 15 phút là khỏi. 

- Các số liệu sau đây là phổ biến: (trừ ngoại lệ) 

- Ðau dạ dầy do bị loét, viêm: ăn 2 lần/ngày. Mỗi lần không quá 7 lá. Khoảng 50 lá là khỏi. 

- Chảy máu đường ruột: Uống lá tươi hoặc lá đã nát, dùng 7–10 lá. Khoảng 1-2 lần là khỏi. 

- Viêm đại tràng co thắt: Ăn như trên 100 lá, kết hợp ăn lá mơ lông trong bữa ăn. Ăn từ 1 đến 2 tháng. 

- Viêm gan, sơ gan cổ trướng: Ngày ăn 2-3 lần, mỗi lần 7 lá dùng khoảng 150 lá. 

- Ðau thận, viêm thận, đau thường xuyên: Dùng không quá 50 lá, chỉ khoảng 30 lá là dứt cơn đau, ngày 3 lần, mỗi lần 3-7 lá. 

- Tả lỏng, đi lỵ, rối loạn tiêu hóa: 7-15 lá, dùng 2 lần là khỏi. 

-Mệt mỏi toàn thân: 3-7 lá, ăn 2 lần. 
- Ðái gắt, đái buốt, đái dục, đái ra máu: Ăn từ 14-21 lá hoặc dã nát uống nước đặc. 
Chữa bệnh gà dùng 1-3 lá, gà chọi sau khi chọi 1-3 lá. Chó cảnh đẻ ăn 1 lá sau 1 ngày đẻ là mạnh ngay. Ðau mắt đỏ, mắt trắng, ứ máu trong mắt lấy 3 lá đắp vào mắt sau một đêm là khỏi. 

 

Bình luận